Kinh Thánh Nghĩa Sĩ Cấp 1

(TUẦN 1) Thời thơ ấu của Thánh Phaolô ở thành Tarsô
(TUẦN 2) Thời kỳ Phaolô du học ở Giêrusalem
(TUẦN 3) Một nghề của Phaolô: ghề dệt vải
(TUẦN 4) Phaolô, một kẻ bách hại Kitô hữu
(TUẦN 5) Phaolô trên đường Damas
(TUẦN 6) Những năm ẩn dật của Phaolô
(TUẦN 7) Đại cương về Thánh Kinh
(TUẦN 8) Đại cương về Tân Ước
(TUẦN 9) Các sách thuộc Tân Ước
(TUẦN 10) Nội dung Phúc Âm Thánh Matthêu
(TUẦN 11) Nội dung Phúc Âm Thánh Marcô
(TUẦN 12) Nội dung Phúc Âm theo Thánh Luca
(TUẦN 13) Nội dung Phúc Âm theo Thánh Gioan
(TUẦN 14) Đại cương các thư của Phaolô
(TUẦN 15) Những bức thư quan hệ của Phaolô
(TUẦN 16) Những bức thư Phaolô viết khi bị giam ở Roma lần I

    (TUẦN 17) Những bức thư Giáo Mục của Phaolô
    (TUẦN 18) Đại cương về các thư Công Giáo (thư Tông Đồ)
    (TUẦN 19 ) Các thư của Thánh Phêrô Tông Đồ
    (TUẦN 20) Các thư của Thánh Gioan Tông Đồ
    (TUẦN 21) Thư của Thánh Giuđa Tông Đồ
    (TUẦN 22) Sách Khải Huyền của Thánh Gioan
    (TUẦN 23) Sách Công Vụ Tông Đồ
    (TUẦN 24) Đời sống các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai
    (TUẦN 25) Thánh Phaolô, Tông Đồ của dân ngoại
    (TUẦN 26) Đời sống gương mẫu của Thánh Phaolô
    (TUẦN 27) Tình yêu Chúa Kitô nơi Thánh Phaolô
    (TUẦN 28) Phaolô dạy ta về tình yêu
    (TUẦN 29) Đại cương về công cuộc truyền giáo của Thánh Phaolô

    (TUẦN 30) Nhà tù và cái chết của Phaolô

(TUẦN 1) Thời thơ ấu của Thánh Phaolô ở thành Tarsô.

Phaolô sinh vào khoảng năm 10 sau tây lịch tại thành Tarsô xứ Cilicia, thuộc đế quốc Rôma (bây giờ thuộc nước Thổ Nhĩ kỳ). Cha mẹ Phaolô là người Do Thái thuộc bộ lạc Benjamin (Rôm. 11,1) và là công dân Rôma. Tước hiệu công dân Rôma là một vinh dự của thời bấy giờ và mang lại nhiều quyền lợi, đặc ân. Phaolô có hai tên: tên Do Thái là Saolô và tên công dân Rôma là Phaolô.

(TUẦN 2) Thời kỳ Phaolô du học ở Giêrusalem.

Đến tuổi thanh niên (khoảng 15), Phaolô được gởi đến Giêrusalem theo học trường một luật sĩ thời danh tên là Gamaliel. Sách Tông Đồ Công Vụ thuật lại chính lời Phaolô: " Tôi là người Do Thái sinh tại Tarsô, xứ Cilicia, đã được nuôi nấng trong thành này, đã thụ giáo dưới chân Gamaliel, rập theo phép nhặt nhiệm của cha ông, nhiệt tâm thờ Thiên Chúa, cũng như các ông hết thảy ngày hôm nay". (CVTĐ 22,3)

Ở Giêrusalem, Phaolô đã được thụ huấn theo lề luật Do thái và trở nên một người hăng hái cuồng tín bênh vực các tập truyền của cha ông. Trong thời kỳ hoạt động của Chúa Giêsu có lẽ Phaolô đã trở về Tarsô.

(TUẦN 3) Một nghề của Phaolô: ghề dệt vải

Như chúng ta đã biết, Phaolô thuộc giai cấp Biệt Phái nên theo thủ tục, mỗi người phải học một nghề làm kế sinh nhai. Riêng Phaolô đã chọn nghề dệt vải lều. Sách Công Vụ Tông Đồ ghi : " Phaolô đến với họ (những người Corinthô) và vì là đồng nghiệp nên ông lưu lại nhà họ mà làm việc : họ chuyên nghề dệt vải lều." (CVTĐ 18,3)
Với tinh thần độc lập, Phaolô đã dùng nghề dệt vải để nuôi thân, không nhờ vả ai mặc dù Ngài có quyền được các tín hữu trợ cấp vì là thừa sai.

(TUẦN 4) Phaolô, một kẻ bách hại Kitô hữu

Trong thời kỳ học ở Giêrusalem, Phaolô đã được thụ huấn theo lễ luật Do Thái, trở nên một người hăng hái cuồng tín bênh vực các tập truyền của cha ông.
Khi Kitô giáo xuất hiện, ông đã quyết liệt chống đối và trở thành một kẻ hăng hái bách hại các Kitô hữu hơn ai hết. Sách Công Vụ Tông Đồ ghi "Saolô vẫn còn hăm hăm đe dọa, thở ra sát khí đối với môn Đồ của Chúa, nên đi yết kiến Thượng Tế mà xin công văn mang đến các hội đường Damas, là hễ gặp ai theo đạo, dù đàn ông hay đàn bà, thì ông được xiềng trói lại mà đem về Giêrusalem" (Gvtd.9,1-2)

(TUẦN 5) Phaolô trên đường Damas

Cuộc đi Damas với sứ mệnh thù địch đã trở thành điểm khởi đầu trong việc tông đồ của Thánh Phalô qua sự gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh. Cuộc gặp gỡ này đã biến đổi Phaolô từ một biệt phái trở thành một tông đồ.

Chúa gọi Phaolô

Trong 3 giai đoạn diễn tả cuộc gặp gỡ Chúa Kitô : Acts 9 : 3-19, 22 : 6-16, và 26 : 12-18, Phaolô nói lên chỉ một sứ điệp thiết yếu ở chỗ: Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại Ta?" _ " Ngài là ai, lạy Chúa?" _ " Ta là Giêsu Nazareth, là người ngươi đang bắt bớ." Phaolô nhấn mạnh đến kinh nghiệm riêng từ đó mà Chúa đã mạc khải cho ông biết Con của Người để Phaolô rao giảng cho dân ngoại (Gal 1: 15-15). Kinh nghiệm "ngã ngựa" trên đường Damas và sứ mạng tông đồ dân ngoại ông ghi nhớ suốt đời. Ông luôn tâm niệm đời ông là một tông đồ: " Tôi không phải là một tông đồ ư? Không phải là tôi đã thấy Chúa Kitô Thiên Chúa chúng ta sao?" ( I Cor 9 : 12 ). Vì danh Chúa Kitô ông đã không biết mệt và không sợ gian khổ để " trở thành mọi sự cho mọi người ( I Cor 9 : 22 ), trở thành "đầy tớ của Chúa Kitô " ( Gal 1: 10: Rm 1:1 ) như những đầy tớ vĩ đại của Chúa đã được nhắc đến trong Cựu Ước như Maisen.

(TUẦN 6) Những năm ẩn dật của Phaolô

Sau khi chịu phép rửa tội, Phaolô bắt đầu công cuộc truyền giáo cho người Do thái . Ít lâu sau, Phaolô đi xuống miền Samạc Arabia ( Gal 1,17 ) phía đông nam Damas và ở đó 3 năm.
Trong 3 năm này, Phaolô đã sống một cuộc đời ẩn dật cầu nguyện và hy sinh, chuẩn bị cho cuộc đời Tông Đồ mai sau. Chính tại nơi đây và trong thời gian này, Phaolô đã được chính Chúa Giêsu đích thân cho biết (mạc khải) về cuộc đời của Chúa khi còn ở trần gian, những hoạt động, những lời giảng dạy và giáo lý của Chúa.
Phaolô đã nêu gương cho ta : trước khi hoạt động, phải được chuẩn bị bằng cầu nguyện và hy sinh.

(TUẦN 7) Đại cương về Thánh Kinh

Thánh Kinh là bộ sách ghi chép lịch sử Dân Thiên Chúa, là một Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Người : Thiên Chúa hứa chăm sóc phù trợ dân, nhưng dân Chúa cũng có bổn phận thờ kính mến yêu và thực thi những điều Người truyền dạy.
Thánh Kinh là Lời Chúa hiện diện giữa dân Người. Chính Chúa Thánh Thần soi sáng và thúc giục các tác giả trong lúc viết để các Ngài viết đúng những điều Thiên Chúa muốn.

Thánh Kinh gồm 73 cuốn chia làm 2 phần :

  1. Cựu Ước : là phần Thánh Kinh chép trước thời Chúa Giêsu Giáng sinh, gồm 46 cuốn, là Giao Ước cũ ký kết giữa Thiên Chúa và dân Do Thái qua trung gian của Maisen trên núi Sinai.
  2. Tân Ước : là phần Thánh Kinh chép sau thời Chúa Giêsu Giáng sinh, gồm 27 cuốn, là Giao Ước mới ký kết giữa Thiên Chúa và Hội Thánh qua Chúa Giêsu trên núi Sọ ( Lc. 22,20 và Jn. 19,30 ).

(TUẦN 8) Đại cương về Tân Ước

Tân Ước là giao ước mới, được ký kết giữa Thiên Chúa và Hội Thánh qua trung gian là Chúa Giêsu (trên núi Sọ) là phần Thánh Kinh chép từ thời Chúa Giêsu Giáng sinh, gồm 27 cuốn, chia làm 3 loại :

  1. Loại lịch sử : 4 Phúc Ââm và Tông Đồ Công Vụ.
  2. Loại giáo huấn : 14 thư Thánh Phaolô và 7 thư Công Giáo.
  3. Loại tiên tri : Sách khải huyền của Thánh Gioan.

(TUẦN 9) Các sách thuộc Tân Ước

Tân Ước gồm 27 cuốn chia ra như sau :

  1. Loại lịch sử -5 cuốn : Phúc âm Thánh Mathêu, Marco, Luca, Gioan.
    Sách Tông Đồ Công Vụ
  2. Loại giáo huấn - 21 cuốn :

    14 Thư của Thánh Phaolô:
    Thư Roma, thư I Corintô, II Corintô, thư Galata, thư Êphêsô, thư Philiphê, thư Colossê, thư I Thessalonica, II Thessalonica, thư I Timôthêô, II Timôthêô, thư Titô, thư Philemon, thư Do-thái.

    Thư Thánh Giacôbê.

    Thư I của Thánh Phêrô tông đồ.
    Thư II của Thánh Phêrô tông đồ.

    Thư I, II, III,của Thánh Gioan tông đồ.
    Thư thánh Giuđa tông đồ.
  3. Loại tiên tri - 1 cuốn : Sách khải huyền của Thánh Gioan.

(TUẦN 10) Nội dung Phúc Âm Thánh Matthêu

Phúc Âm Chúa Giêsu theo thánh Mathêu được viết khoảng năm 50 tại xứ Giuđêa, cho các Kitô hữu gốc Do thái, Ngài đã dùng Cựu Ước để minh chứng Chúa Giêsu chính là Đấng Messia (Đấng được xức dầu, Đấng Cứu Thế ) mà Thiên Chúa đã hứa cho dân Ngài.
Phúc Âm Thánh Mathêu gồm 28 đoạn, chia làm 4 phần, phần mở đầu và 3 phần chính:

  1. Mở đầu : Nói về Sinh Nhật và thời thơ ấu của Chúa Giêsu ( đoạn 1-4 )
  2. Phần I : Thuật lại thời kỳ giảng dạy của Chúa Giêsu ở Galilêa (đoạn 4-13 )
  3. Phần II :Kể lại những cuộc hành trình của Chúa ngoài biên giới xứ Galilêa(đoạn14-20)
  4. Phần III : ghi lại việc Chúa Giêsu rao giảng ở Giêrusalem, cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa (đoạn 21-28 ).

(TUẦN 11) Nội dung Phúc Âm Thánh Marcô

Phúc Âm Chúa Giêsu theo Thánh Marcô được viết vào khoảng năm 55-60 tại Roma, cho các tín hữu không phải gốc Do thái. Với mục đích minh chứng Chúa Kitô là con Thiên Chúa, đã xuống thế với tất cả uy quyền của một Thiên Chúa.

Phúc Âm theo Thánh Marcô gồm 16 đoạn, chia làm 4 phần :

  1. Mở đầu : Gioan Tẩy Giả rao giảng ( 1,1 - 1,13 )
  2. Phần I : Thời kỳ Chúa giảng dạy ở Galilêa (1,14-6,6 )
  3. Phần II : Những cuộc hành trình của Chúa (6,6 - 10,52 )
  4. Phần III : Những hoạt động của Chúa Giêsu ở Giêrusalem, cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa ( 11,1-16,20 ).

(TUẦN 12) Nội dung Phúc Âm theo Thánh Luca

Phúc Âm Chúa Giêsu theo Thánh Luca được viết vào khoảng năm 60-63 tại Archaia cho các Kitô hữu không phải gốc Do thái. Với mục đích minh chứng tính cách chính xác của Tin Mừng Kitô giáo. Ngài cũng diễn tả Thiên Chúa là người Cha đầy tình thương và sẵn sàng tha thứ.

Phúc Âm Thánh Luca gồm 24 đoạn gồm bài tựa, mở đầu và 3 phần chính:

  1. Bài tựa : Luca đã điều tra cẩn thận về những việc liên quan đến Chúa Giêsu ( 1, 1-4 )
  2. Mở đầu : Thời kỳ thơ ấu và chuẩn bị đời sống rao giảng của Chúa Giêsu (1,4-4,13 ) Phần I : Thời kỳ Chúa Giêsu giảng dạy ở Galilêa ( 4,14-9,50 )
  3. Phần II : Cuộc hành trình của Chúa Giêsu lên Giêrusalem ( 9,51-19,27 )
  4. Phần III : Những hoạt động của Chúa Giêsu ở Giêrusalem, cuộc tử nạn, Phục Sinh và lên trời của Chúa Giêsu (19,28-24,53 ).

(TUẦN 13) Nội dung Phúc Âm theo Thánh Gioan

Phúc Âm Chúa Giêsu theo Thánh Gioan được viết vào khoảng năm 90-100 tại Êphêsô, cho các Kitô hữu để họ tin vững mạnh và sâu xa Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha và do đó được sự sống vĩnh cửu.

Phúc Âm Gioan gồm 21 đoạn, chia làm 3 phần :

  1. Mở đầu : Ngôi Lời (Ngôi Hai Thiên Chúa ) nhập thể đem ánh sáng cho nhân loại. Ai đón nhận ánh sáng sẽ được cứu rỗi, ai không nhận sẽ bị án phạt (1,1-18 )
  2. Phần I : Hoạt động của Chúa Giêsu nơi trần gian, bắt đầu từ phép lạ Cana (1,19-12,50)
  3. Phần II : Chúa Giêsu về với Chúa Cha : bữa tiệc ly, cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu (13,1-21,25 ).

(TUẦN 14) Đại cương các thư của Phaolô

Toàn bộ các thư mang tên của Phaolô có 14 thư. Các thư của Phaolô đã được viết tùy dịp, hoặc cho một cá nhân, hoặc cho một cộng đoàn.

Đạo lý trong các thư của Phaolô :

  1. Chúa Kitô con Thiên Chúa đã cứu chuộc nhân loại. Người ta co ù thể được ơn cứu rỗi nhờ Chúa Kitô.
  2. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh.
  3. Hội Thánh là Thân Mình Chúa Kitô : Nhiệm Thể Chúa Kitô.
  4. Công cuộc cứu chuộc liên kết với màu nhiệm Ba Ngôi Các thư Phaolô được chia làm 3 loại :
    - Những bức thư quan hệ.
    - Những bức thư viết khi bị giam ở Roma lần I.
    - Những bức thư Giáo Mục.

(TUẦN 15) Những bức thư quan hệ của Phaolô

Trong số những bức thư của Thánh Phaolô, có 6 bức thư quan hệ:

  1. Thư gửi tín hữu Roma
  2. Thư I gửi tín hữu Corinthô
  3. Thư II gửi tín hữu Corinthô
  4. Thư gửi tín hữu Galata
  5. Thư I gửi tín hữu Thessalonica
  6. Thư II gửi tín hữu Thessalonica

Trong các thư này, Phaolô nói về sự công chính hóa, việc tái lâm (đến lần thứ II) trong vinh quang của Chúa và tất cả những vấn đề và những người tân tòng và những cộng đồng Kitô hữu sơ khai gặp phải.

(TUẦN 16) Những bức thư Phaolô viết khi bị giam ở Roma lần I

Trong thời kỳ bị giam ở Roma lần thứ I (năm 61-62). Phaolô đã viết tất cả 4 bức thư : Thư gửi tín hữu Êphêsô Thư gửi tín hữu Philip Thư gửi tín hữu Colosê Thư gửi Philêmon Trong những bức thư này, Phaolô nói tới vai trò của Chúa Kitô trong vũ trụ và lịch sử. Người ta coi những thư này là những thư bàn về Chúa Kitô. Trong bức thư đó, Phaolô cũng cố định những yếu tố của một đời sống Kitô hữu hoàn toàn.

(TUẦN 17) Những bức thư Giáo Mục của Phaolô

Những bức thư của Phaolô nói về nhiệm vụ của các chủ chăn và việc tổ chức các cộng đồng Kitô hữu, được mệnh danh là những bức thư Giáo Mục, gồm 4 thư sau :

  1. Thư I gửi Timôthêô
  2. Thư II gửi Timôthêô
  3. Thư gửi Titô
  4. Thư gửi tín hữu Do Thái

Trong các thư naỳ, ta thấy nỗi lo lắng của Phaolô về việc tổ chức các cộng đồng Kitô giáo trước hiểm nguy của các lạc thuyết.

(TUẦN 18) Đại cương về các thư Công Giáo (thư Tông Đồ)

Ngoài 14 bức thư của Thánh Phaolô ra, trong bộ Thánh Thư còn 7 bức thư nữa gọi là thư Công Giáo, do các Tông Đồ viết cho các giáo đoàn nên gọi là thư Công Giáo:

  1. Thư của Thánh Giacôbê Tông Đồ
  2. Thư I của Thánh Phêrô Tông Đồ
  3. Thư II của Thán Phêrô Tông Đồ
  4. Thư I của Thánh Gioan Tông Đồ
  5. Thư II của Thánh Gioan Tông Đồ
  6. Thư III của Thánh Gioan Tông Đồ
  7. Thư của Thánh Giuđa Tông Đồ ( Giuđa Tađêô)

Trong các thư này chứa đựng nhiều đề tài quan trọng về thần học, phụng vụ và luân lý Công Giáo.

(TUẦN 19 ) Các thư của Thánh Phêrô Tông Đồ

Thánh Phêrô đã viết tất cả 2 bức thư:

  • Thư I Phêrô : Ơn cứu rỗi Kitô giáo đem đến là nguồn mạch ban phát can đảm và hy vọng. Bức thư gồm 5 đoạn chia làm 5 phần:
  1. Phần I : Lời khuyên bảo chung (1, 13-2, 10)
  2. Mở đầu : Lời chào (1, 1-12)
  3. Phần II : Những lời khuyên bảo riêng cho từng hạng người (2, 11-4, 6)
  4. Phần III : Đời sống xã hội cộng đồng (4, 7-5, 11)
  5. Phần kết : Lời chào và chúc bình an (5, 12-14)
  • Thư II Phêrô : Khuyên các tín hữu phải sống thánh thiện trước ngày tái lâm của Chúa.
    Bức thư gồm 3 đoạn chia làm 4 phần:
  1. Mở đầu : Lời chào và chúc lành (1, 1-2)
  2. Phần I : Khuyên sống thánh thiện (1,3-21)
  3. Phần II : Khuyên tránh các tiên tri giả (2, 1-3, 13)
  4. Phần kết : Khuyên sống thánh và tỉnh thức (3, 14-18)

(TUẦN 20) Các thư của Thánh Gioan Tông Đồ

Thánh Gioan Tông Đồ đã viết tất cả 3 thư:

  1. Thư I : Những đòi hỏi của đức tin Mở đầu :
    Mục đích bức thư (1,1-4)

    Phần I : Sống theo ánh sáng của ân sủng (1, 5-2, 28)
    Phần II : Sống theo tư cách là con cái Thiên Chúa (2, 2-4, 5)
    Phần III : Sống trong tình yêu của Thiên Chúa (4, 7-5, 13)
    Phần kết : Lòng tin vào Chúa Kitô (5, 14-17)
  2. Thư II : Sống trong tình yêu thương lẫn nhau
    Mở đầu : Lòng ưu ái của Thánh Gioan với độc giả (câu 1-3)
    Phần thân : Khuyên sống bác ái (câu 4-11)
    Phần kết : Lời chào (câu 12-13)
  3. Thư III : Khen lòng đạo đức của một người Gaiô.
    Mở đầu : Chúc lành (câu 1-2)
    Phần thân : Khen Gaiô (câu3-12)
    Phần kết : Lời chào (câu 13-15)

(TUẦN 21) Thư của Thánh Giuđa Tông Đồ

Thánh Giuđa Tông Đồ (khác với Giuđa bán Chúa) viết thư này để cảnh cáo các tín hữu phải đề phòng những lạc đạo đã xâm nhập vào cộng đoàn.

Mở đầu : Khuyên các tín hữu phải chiến đấu vì đức tin (câu 1-4)
Phần thân : Hình phạt cho những kẻ khuyến dụ và những kẻ theo đường xấu (câu 5-19)
Phần kết : Khuyên các tín hữu hãy lo sống xứng đáng và cứu vớt những ai phân vân lưỡng lự (câu 20-25)

(TUẦN 22) Sách Khải Huyền của Thánh Gioan

Sách Khải Huyền giải thích tình cảnh khốn quẫn của cộng đoàn Tiểu Á đang gặp phải, theo viễn tượng cánh chung tận thế. Hy vọng cuả Hội Thánh tất cả dựa vào Chúa Kitô. Hội Thánh xưng đức tin vào Đấng đã chết và sống lại:
Chúa Kitô sẽ đến trong vinh quang.
Sách gồm 22 đoạn chia làm 4 phần:

  1. Mở đầu : Lời chào, kiến thị con người (1, 9-20)
  2. Phần I : Thị kiến về những việc hiện tại (2, 1-3, 22)
  3. Phần II : Thị kiến về những sự sẽ xảy ra (4, 1-22, 5)
  4. Phần kết : Chúa Kitô sẽ đến (22, 6-21)

(TUẦN 23) Sách Công Vụ Tông Đồ

Sách CVTĐ do Thánh Luca viết vào khoảng năm 63-64 tại Roma, cho những người ngọai giáo đã trở lại Kitô giáo. Với mục đích minh chứng sự thực hiện chương trình của Thiên Chúa qua sự bành trướng lạ lùng của Phúc Âm. Sách CVTĐ gồm 28 đoạn chia làm 4 phần:

  1. Mở đầu : Lời tựa, việc Chúa Giêsu lên trời và việc chọn Tông Đồ Matthia. (1, 1-26)
  2. Phần I : Hội Thánh nơi người Do Thái. Stephanô vị tử đạo tiên khởi. Việc Phaolô trở lại (2-9)
  3. Phần II : Cuộc truyền giaó cho dân ngoại, công đồng các Tông Đồ. (10-15, 35)
  4. Phần III : Hội Thánh nơi dân ngoại. Tột điểm công cuộc truyền giáo của Phaolô.
    Phaolô bị bắt và giải về Roma. (15,36-28, 31)

(TUẦN 24) Đời sống các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai

Sách TĐCV cho chúng ta thấy sự bành trướng lạ lùng của Tin Mừng, đồng thời cũng cho chúng ta biết sơ lược đời sống của các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai.
Trong thời kỳ ấy, các Kitô hữu ân cần nghe giáo huấn của các Tông Đồ, đồng tâm nhất trí với nhau, liên kết trong lời cầu nguyện (TĐCV 2,42)
Mọi người đều coi mọi sự như của chung : đất đai, của cải thì họ bán đi phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình (TĐCV 2, 44-45). Họ sống bác ái và thực tình giúp đỡ nhau trong tình huynh đệ.
Họ chuyên tâm cầu nguyện và hân hoan trong hy vọng (TĐCV 2, 46-47).

(TUẦN 25) Thánh Phaolô, Tông Đồ của dân ngoại

  1. Sứ vụ của Phaolô được báo trước như thế nào ? - Khi được kêu gọi trở lại làm tông đồ trên đường Damas, Chúa đã nói với Phaolô : " Con là lợi khí Ta dùng để mang danh Ta ra trước mặt các dân ngoại, các vua Chúa và con cái Israel..."
  2. Ngài đáp trả ơn gọi tông đồ ra sao ? Thánh Phaolô bắt đầu rao giảng cho người Do Thái. Nhưng họ đã chối từ, vì thế, ngài đã quay sang dân ngoại (13:46), (vì thế ngài được danh hiệu là Tông Đồ Dân Ngoại). Tuy nhiên, ngài vẫn rao giảng cho hết mọi người, không phân biệt chủng tộc, luôn luôn hăng say với sứ vụ Tin Mừng : "Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm".

(TUẦN 26) Đời sống gương mẫu của Thánh Phaolô

Trong thư gửi tín hữu Côrinthô, Phaolô viết : "Anh em hãy theo gương tôi, như tôi đã theo gương Chúa Kitô" ( I Cor. 11, 1). Thực thế Phaolô đã theo gương Chúa Kitô hết mình và ngài đã mạnh bạo khuyên mọi người hãy sống theo ngài.
Theo gương Chúa Kitô, Phaolô đã nên gương cho chúng ta về lòng mến Chúa, lòng yêu thương tha nhân, đòi sống cầu nguyện, hy sinh, tinh thần truyền giáo, tinh thần từ bỏ, phó thác, đời sống làm việc...Chúng ta hãy suy nghĩ và theo gương Ngài.

(TUẦN 27) Tình yêu Chúa Kitô nơi Thánh Phaolô

Tình yêu Chúa Kitô đã làm cho Thánh Phaolô từ một kẻ thù nghịch trở nên hăng hái rao giảng tin mừng cứu độ. Chính tình yêu ấy đã liên kết ngài với Chúa Kitô. Trong thư gửi tín hữu Galata, ngài viết : "Tôi sống nhưng không phải tôi mà là chính Đức Kitô sống trong tôi" ( Thư Galata 2, 20).
Ngài đã hoạt động tất cả vì tình yêu đó : " Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi ( 2Cor. 5,14) và không sức mạnh nào có thể tách rời ngài khỏi Chúa Kitô : "Dù sự chết, sự sống, thiên thần dù đói khát hay bất cứ tạo vật nào khác cũng không thể tách rời chúng ta khỏi lòng mến Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " (Rom.8,38-39).

(TUẦN 28) Phaolô dạy ta về tình yêu

Tình yêu đã thúc đẩy Phaolô hoạt động và hy sinh, đã chi phối cuộc đời Ngài. Vì thế Ngài không ngừng khuyên nhủ chúng ta sống trong tình yêu và hoạt động vì Tình Yêu. Phaolô dạy ta sống trong Đức Aùi : Yêu mến Thiên Chúa và yêu tha nhân. Theo ngài, có đức ái là có tất cả, thiếu đức ái, tất cả đều trở nên vô ích : " Nếu tôi được tất cả lòng tin chuyển núi rời non mà thiếu đức ái, tôi vẫn là không. Nếu tôi đem cả gia tài bố thí cho kẻ khó, nộp mình chịu thiêu đốt mà không có đức ái thì cũng vô ích cho tôi" ( I Cor. 13, 2-3).

(TUẦN 29) Đại cương về công cuộc truyền giáo của Thánh Phaolô

Sau khi trở lại, Phaolô bắt đầu ngay công cuộc truyền giáo cho người Do Thái, từ Damas đến Antiokia. Nhưng đó chỉ là những hoạt động chuẩn bị cho 3 cuộc hành trình truyền giáo quy mô của Ngài sau này:

  1. Cuộc hành trình truyền giáo thứ I : từ năm 45-48 có Barnaba cùng đi.
  2. Cuộc hành trình truyền giáo thứ II : từ năm 50-53 có Sila và Timôthêô cùng đi.
  3. Cuộc hành trình truyền giáo thứ III : từ năm 54-58

(TUẦN 30) Nhà tù và cái chết của Phaolô

Năm 58 sau Chúa Kitô, Phaolô trở về thăm Giêrusalem. Vì ông rao giảng Chúa Kitô cho người Hy lạp, điều làm cho người Do thái tức giận và coi ông là người phá luật Maisen, đưa dân ngoại vào làm ô uế đền thờ... nên khi thấy ông, dân Do thái nổi giận, bắt trói và đòi giết ông ( Acts 21 : 28-36 )

Phaolô bị bắt và trao cho quan trấn thủ Felix, ông này muốn Phaolô đút lót tiền để được tha. Nhưng vì Phaolô không cho tiền hối lộ nên Felix giam ông trong tù mà không cứu xét để làm vui lòng dân Do thái cho dù theo luật chỉ được giam tù nhân tối đa là 2 năm, sau đó phải cứu xét. Sau 2 năm tù chưa được cứu xét thì Felix bị đổi.

Porcius Festus thay thế Felix. Phaolô xin được Hoàng Đế Caesar xét sử tại Roma dựa vào quyền công dân của ông. Được chuyển đi bằng tàu rồiø bị đắm tàu và sống xót trên đảo Malta. Mãi tới năm 61 Phaolô mới tới thủ đô Roma và bị giam thêm 2 năm nữa. Ở đó ông vẫn không quản sứ mạng truyền giáo nên đã viết những lá thư từ nhà tù cho Philenion, giáo dân Colosse và cho giáo dân Ephêsô.

Phaolô chết vào khoảng năm 67 trong cuộc bách đạo thời Nero từ năm 64 - 68. Phaolô được mai táng tại Via- Ostieusis. Năm 258 hài cốt Ngài được đến Ad Catacumbas để tránh cuộc bách hại của Valeria. Sau này, được dời về chỗ chôn cũ và hoàng đế Constantine đã xây một đền thờ trên mộ Ngài.

 
 

 
       
 
 
 
 
 
back to top...
 
back to top...
 
back to top...
 
back to top...
 
back to top...
 
back to top...