(TUẦN 1)Thời
thơ ấu của Thánh Phaolô ở thành Tarsô.
Phaolô sinh vào khoảng năm
10 sau tây lịch tại thành Tarsô xứ Cilicia, thuộc đế quốc Rôma
(bây giờ thuộc nước Thổ Nhĩ kỳ). Cha mẹ Phaolô là người Do Thái
thuộc bộ lạc Benjamin (Rôm. 11,1) và là công dân Rôma. Tước
hiệu công dân Rôma là một vinh dự của thời bấy giờ và mang lại
nhiều quyền lợi, đặc ân. Phaolô có hai tên: tên Do Thái là Saolô
và tên công dân Rôma là Phaolô.
(TUẦN 2) Thời
kỳ Phaolô du học ở Giêrusalem.
Đến tuổi thanh niên (khoảng
15), Phaolô được gởi đến Giêrusalem theo học trường một luật
sĩ thời danh tên là Gamaliel. Sách Tông Đồ Công Vụ thuật lại
chính lời Phaolô: " Tôi là người Do Thái sinh tại Tarsô,
xứ Cilicia, đã được nuôi nấng trong thành này, đã thụ giáo dưới
chân Gamaliel, rập theo phép nhặt nhiệm của cha ông, nhiệt tâm
thờ Thiên Chúa, cũng như các ông hết thảy ngày hôm nay".
(CVTĐ 22,3)
Ở Giêrusalem, Phaolô đã được thụ huấn theo lề luật Do thái và
trở nên một người hăng hái cuồng tín bênh vực các tập truyền
của cha ông. Trong thời kỳ hoạt động của Chúa Giêsu có lẽ Phaolô
đã trở về Tarsô.
(TUẦN 3) Một
nghề của Phaolô: ghề dệt vải
Như chúng ta đã biết, Phaolô
thuộc giai cấp Biệt Phái nên theo thủ tục, mỗi người phải học
một nghề làm kế sinh nhai. Riêng Phaolô đã chọn nghề dệt vải
lều. Sách Công Vụ Tông Đồ ghi : " Phaolô đến với họ (những
người Corinthô) và vì là đồng nghiệp nên ông lưu lại nhà họ
mà làm việc : họ chuyên nghề dệt vải lều." (CVTĐ 18,3)
Với tinh thần độc lập, Phaolô đã dùng nghề dệt vải để nuôi thân,
không nhờ vả ai mặc dù Ngài có quyền được các tín hữu trợ cấp
vì là thừa sai.
(TUẦN 4) Phaolô,
một kẻ bách hại Kitô hữu
Trong thời kỳ học ở Giêrusalem,
Phaolô đã được thụ huấn theo lễ luật Do Thái, trở nên một người
hăng hái cuồng tín bênh vực các tập truyền của cha ông.
Khi Kitô giáo xuất hiện, ông đã quyết liệt chống đối và trở
thành một kẻ hăng hái bách hại các Kitô hữu hơn ai hết. Sách
Công Vụ Tông Đồ ghi "Saolô vẫn còn hăm hăm đe dọa, thở
ra sát khí đối với môn Đồ của Chúa, nên đi yết kiến Thượng Tế
mà xin công văn mang đến các hội đường Damas, là hễ gặp ai theo
đạo, dù đàn ông hay đàn bà, thì ông được xiềng trói lại mà đem
về Giêrusalem" (Gvtd.9,1-2)
(TUẦN 5) Phaolô
trên đường Damas
Cuộc đi Damas với sứ mệnh thù địch đã trở thành điểm khởi đầu
trong việc tông đồ của Thánh Phalô qua sự gặp gỡ Chúa Kitô phục
sinh. Cuộc gặp gỡ này đã biến đổi Phaolô từ một biệt phái trở
thành một tông đồ.
Chúa gọi Phaolô
Trong 3 giai đoạn diễn tả cuộc gặp gỡ Chúa Kitô : Acts 9 : 3-19,
22 : 6-16, và 26 : 12-18, Phaolô nói lên chỉ một sứ điệp thiết
yếu ở chỗ: Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại Ta?" _ "
Ngài là ai, lạy Chúa?" _ " Ta là Giêsu Nazareth, là
người ngươi đang bắt bớ." Phaolô nhấn mạnh đến kinh nghiệm
riêng từ đó mà Chúa đã mạc khải cho ông biết Con của Người để
Phaolô rao giảng cho dân ngoại (Gal 1: 15-15). Kinh nghiệm "ngã
ngựa" trên đường Damas và sứ mạng tông đồ dân ngoại ông
ghi nhớ suốt đời. Ông luôn tâm niệm đời ông là một tông đồ:
" Tôi không phải là một tông đồ ư? Không phải là tôi đã
thấy Chúa Kitô Thiên Chúa chúng ta sao?" ( I Cor 9 : 12
). Vì danh Chúa Kitô ông đã không biết mệt và không sợ gian
khổ để " trở thành mọi sự cho mọi người ( I Cor 9 : 22
), trở thành "đầy tớ của Chúa Kitô " ( Gal 1: 10:
Rm 1:1 ) như những đầy tớ vĩ đại của Chúa đã được nhắc đến trong
Cựu Ước như Maisen.
(TUẦN 6) Những
năm ẩn dật của Phaolô
Sau khi chịu phép rửa tội,
Phaolô bắt đầu công cuộc truyền giáo cho người Do thái . Ít
lâu sau, Phaolô đi xuống miền Samạc Arabia ( Gal 1,17 ) phía
đông nam Damas và ở đó 3 năm.
Trong 3 năm này, Phaolô đã sống một cuộc đời ẩn dật cầu nguyện
và hy sinh, chuẩn bị cho cuộc đời Tông Đồ mai sau. Chính tại
nơi đây và trong thời gian này, Phaolô đã được chính Chúa Giêsu
đích thân cho biết (mạc khải) về cuộc đời của Chúa khi còn ở
trần gian, những hoạt động, những lời giảng dạy và giáo lý của
Chúa.
Phaolô đã nêu gương cho ta : trước khi hoạt động, phải được
chuẩn bị bằng cầu nguyện và hy sinh.
(TUẦN 7)
Đại cương về Thánh Kinh
Thánh Kinh là bộ sách ghi chép
lịch sử Dân Thiên Chúa, là một Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân
Người : Thiên Chúa hứa chăm sóc phù trợ dân, nhưng dân Chúa
cũng có bổn phận thờ kính mến yêu và thực thi những điều Người
truyền dạy.
Thánh Kinh là Lời Chúa hiện diện giữa dân Người. Chính Chúa
Thánh Thần soi sáng và thúc giục các tác giả trong lúc viết
để các Ngài viết đúng những điều Thiên Chúa muốn.
Thánh Kinh gồm 73 cuốn chia làm 2 phần :
- Cựu Ước : là phần Thánh Kinh chép trước
thời Chúa Giêsu Giáng sinh, gồm 46 cuốn, là Giao Ước cũ ký
kết giữa Thiên Chúa và dân Do Thái qua trung gian của Maisen
trên núi Sinai.
- Tân Ước : là phần Thánh Kinh chép sau thời
Chúa Giêsu Giáng sinh, gồm 27 cuốn, là Giao Ước mới ký kết
giữa Thiên Chúa và Hội Thánh qua Chúa Giêsu trên núi Sọ (
Lc. 22,20 và Jn. 19,30 ).
(TUẦN 8) Đại
cương về Tân Ước
Tân Ước là giao ước mới, được
ký kết giữa Thiên Chúa và Hội Thánh qua trung gian là Chúa Giêsu
(trên núi Sọ) là phần Thánh Kinh chép từ thời Chúa Giêsu Giáng
sinh, gồm 27 cuốn, chia làm 3 loại :
- Loại lịch sử : 4 Phúc Ââm và Tông Đồ Công
Vụ.
- Loại giáo huấn : 14 thư Thánh Phaolô và
7 thư Công Giáo.
- Loại tiên tri : Sách khải huyền của Thánh
Gioan.
(TUẦN 9) Các
sách thuộc Tân Ước
Tân Ước gồm 27 cuốn chia ra
như sau :
- Loại lịch sử -5 cuốn : Phúc âm Thánh Mathêu,
Marco, Luca, Gioan.
Sách Tông Đồ Công Vụ
- Loại giáo huấn - 21 cuốn :
14 Thư của Thánh Phaolô:
Thư Roma, thư I Corintô, II Corintô, thư Galata, thư Êphêsô,
thư Philiphê, thư Colossê, thư I Thessalonica, II Thessalonica,
thư I Timôthêô, II Timôthêô, thư Titô, thư Philemon, thư Do-thái.
Thư Thánh Giacôbê.
Thư I của Thánh Phêrô tông đồ.
Thư II của Thánh Phêrô tông đồ.
Thư I, II, III,của Thánh Gioan tông đồ.
Thư thánh Giuđa tông đồ.
- Loại tiên tri - 1 cuốn : Sách khải huyền
của Thánh Gioan.
(TUẦN 10)
Nội dung Phúc Âm Thánh Matthêu
Phúc Âm Chúa Giêsu theo thánh
Mathêu được viết khoảng năm 50 tại xứ Giuđêa, cho các Kitô hữu
gốc Do thái, Ngài đã dùng Cựu Ước để minh chứng Chúa Giêsu chính
là Đấng Messia (Đấng được xức dầu, Đấng Cứu Thế ) mà Thiên Chúa
đã hứa cho dân Ngài.
Phúc Âm Thánh Mathêu gồm 28 đoạn, chia làm 4 phần, phần mở đầu
và 3 phần chính:
- Mở đầu : Nói về Sinh Nhật và thời thơ ấu
của Chúa Giêsu ( đoạn 1-4 )
- Phần I : Thuật lại thời kỳ giảng dạy của
Chúa Giêsu ở Galilêa (đoạn 4-13 )
- Phần II :Kể lại những cuộc hành trình của
Chúa ngoài biên giới xứ Galilêa(đoạn14-20)
- Phần III : ghi lại việc Chúa Giêsu rao giảng
ở Giêrusalem, cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa (đoạn 21-28
).
(TUẦN 11)
Nội dung Phúc Âm Thánh Marcô
Phúc Âm Chúa Giêsu theo Thánh
Marcô được viết vào khoảng năm 55-60 tại Roma, cho các tín hữu
không phải gốc Do thái. Với mục đích minh chứng Chúa Kitô là
con Thiên Chúa, đã xuống thế với tất cả uy quyền của một Thiên
Chúa.
Phúc Âm theo Thánh Marcô gồm 16 đoạn, chia làm 4 phần :
- Mở đầu : Gioan Tẩy Giả rao giảng ( 1,1
- 1,13 )
- Phần I : Thời kỳ Chúa giảng dạy ở Galilêa
(1,14-6,6 )
- Phần II : Những cuộc hành trình của Chúa
(6,6 - 10,52 )
- Phần III : Những hoạt động của Chúa Giêsu
ở Giêrusalem, cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa ( 11,1-16,20
).
(TUẦN 12)
Nội dung Phúc Âm theo Thánh Luca
Phúc Âm Chúa Giêsu theo Thánh
Luca được viết vào khoảng năm 60-63 tại Archaia cho các Kitô
hữu không phải gốc Do thái. Với mục đích minh chứng tính cách
chính xác của Tin Mừng Kitô giáo. Ngài cũng diễn tả Thiên Chúa
là người Cha đầy tình thương và sẵn sàng tha thứ.
Phúc Âm Thánh Luca gồm 24 đoạn gồm bài tựa, mở đầu và 3 phần
chính:
-
Bài tựa : Luca đã điều tra cẩn thận về
những việc liên quan đến Chúa Giêsu ( 1, 1-4 )
-
Mở đầu : Thời kỳ thơ ấu và chuẩn bị
đời sống rao giảng của Chúa Giêsu (1,4-4,13 ) Phần I : Thời
kỳ Chúa Giêsu giảng dạy ở Galilêa ( 4,14-9,50 )
-
Phần II : Cuộc hành trình của Chúa Giêsu
lên Giêrusalem ( 9,51-19,27 )
-
Phần III : Những hoạt động của Chúa Giêsu
ở Giêrusalem, cuộc tử nạn, Phục Sinh và lên trời của Chúa
Giêsu (19,28-24,53 ).
(TUẦN 13)
Nội dung Phúc Âm theo Thánh Gioan
Phúc Âm Chúa Giêsu theo Thánh
Gioan được viết vào khoảng năm 90-100 tại Êphêsô, cho các Kitô
hữu để họ tin vững mạnh và sâu xa Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế
và là Con Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha và do đó được
sự sống vĩnh cửu.
Phúc Âm Gioan gồm 21 đoạn, chia làm 3 phần :
-
Mở đầu : Ngôi Lời (Ngôi Hai Thiên Chúa
) nhập thể đem ánh sáng cho nhân loại. Ai đón nhận ánh sáng
sẽ được cứu rỗi, ai không nhận sẽ bị án phạt (1,1-18 )
-
Phần I : Hoạt động của Chúa Giêsu nơi
trần gian, bắt đầu từ phép lạ Cana (1,19-12,50)
-
Phần II : Chúa Giêsu về với Chúa Cha
: bữa tiệc ly, cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu (13,1-21,25
).
(TUẦN 14)
Đại cương các thư của Phaolô
Toàn bộ các thư mang tên của Phaolô
có 14 thư. Các thư của Phaolô đã được viết tùy dịp, hoặc cho
một cá nhân, hoặc cho một cộng đoàn.
Đạo lý trong các thư của Phaolô :
- Chúa Kitô con Thiên Chúa đã cứu chuộc nhân
loại. Người ta co ù thể được ơn cứu rỗi nhờ Chúa Kitô.
- Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh.
- Hội Thánh là Thân Mình Chúa Kitô : Nhiệm
Thể Chúa Kitô.
- Công cuộc cứu chuộc liên kết với màu nhiệm
Ba Ngôi Các thư Phaolô được chia làm 3 loại :
- Những bức thư quan hệ.
- Những bức thư viết khi bị giam ở Roma lần I.
- Những bức thư Giáo Mục.
(TUẦN 15)
Những bức thư quan hệ của Phaolô
Trong số những bức thư của
Thánh Phaolô, có 6 bức thư quan hệ:
- Thư gửi tín hữu Roma
- Thư I gửi tín hữu Corinthô
- Thư II gửi tín hữu Corinthô
- Thư gửi tín hữu Galata
- Thư I gửi tín hữu Thessalonica
- Thư II gửi tín hữu Thessalonica
Trong các thư này, Phaolô nói về sự công chính
hóa, việc tái lâm (đến lần thứ II) trong vinh quang của Chúa
và tất cả những vấn đề và những người tân tòng và những cộng
đồng Kitô hữu sơ khai gặp phải.
(TUẦN 16)
Những bức thư Phaolô viết khi bị giam
ở Roma lần I
Trong thời kỳ bị giam ở Roma
lần thứ I (năm 61-62). Phaolô đã viết tất cả 4 bức thư : Thư
gửi tín hữu Êphêsô Thư gửi tín hữu Philip Thư gửi tín hữu Colosê
Thư gửi Philêmon Trong những bức thư này, Phaolô nói tới vai
trò của Chúa Kitô trong vũ trụ và lịch sử. Người ta coi những
thư này là những thư bàn về Chúa Kitô. Trong bức thư đó, Phaolô
cũng cố định những yếu tố của một đời sống Kitô hữu hoàn toàn.
(TUẦN 17)
Những bức thư Giáo Mục của Phaolô
Những bức thư của Phaolô nói
về nhiệm vụ của các chủ chăn và việc tổ chức các cộng
đồng Kitô hữu, được mệnh danh là những bức thư Giáo Mục, gồm
4 thư sau :
- Thư I gửi Timôthêô
- Thư II gửi Timôthêô
- Thư gửi Titô
- Thư gửi tín hữu Do Thái
Trong các thư naỳ, ta thấy nỗi lo lắng
của Phaolô về việc tổ chức các cộng đồng Kitô giáo trước hiểm
nguy của các lạc thuyết.
(TUẦN 18)
Đại cương về các thư Công Giáo (thư Tông
Đồ)
Ngoài 14 bức thư của Thánh
Phaolô ra, trong bộ Thánh Thư còn 7 bức thư nữa gọi là thư Công
Giáo, do các Tông Đồ viết cho các giáo đoàn nên gọi là thư Công
Giáo:
- Thư của Thánh Giacôbê Tông Đồ
- Thư I của Thánh Phêrô Tông Đồ
- Thư II của Thán Phêrô Tông Đồ
- Thư I của Thánh Gioan Tông Đồ
- Thư II của Thánh Gioan Tông Đồ
- Thư III của Thánh Gioan Tông Đồ
- Thư của Thánh Giuđa Tông Đồ ( Giuđa Tađêô)
Trong các thư này chứa đựng nhiều đề tài quan
trọng về thần học, phụng vụ và luân lý Công Giáo.
(TUẦN 19
) Các thư của Thánh Phêrô Tông Đồ
Thánh Phêrô đã viết tất cả
2 bức thư:
- Thư I Phêrô : Ơn cứu rỗi Kitô giáo đem
đến là nguồn mạch ban phát can đảm và hy vọng. Bức thư gồm
5 đoạn chia làm 5 phần:
- Phần I : Lời khuyên bảo chung (1, 13-2,
10)
- Mở đầu : Lời chào (1, 1-12)
- Phần II : Những lời khuyên bảo riêng cho
từng hạng người (2, 11-4, 6)
- Phần III : Đời sống xã hội cộng đồng (4,
7-5, 11)
- Phần kết : Lời chào và chúc bình an (5,
12-14)
- Thư II Phêrô : Khuyên các tín hữu phải sống
thánh thiện trước ngày tái lâm của Chúa.
Bức thư gồm 3 đoạn chia làm 4 phần:
- Mở đầu : Lời chào và chúc lành (1, 1-2)
- Phần I : Khuyên sống thánh thiện (1,3-21)
- Phần II : Khuyên tránh các tiên tri giả
(2, 1-3, 13)
- Phần kết : Khuyên sống thánh và tỉnh thức
(3, 14-18)
(TUẦN 20)
Các thư của Thánh Gioan Tông Đồ
Thánh Gioan Tông Đồ đã viết
tất cả 3 thư:
- Thư I : Những đòi hỏi của đức tin Mở đầu
:
Mục đích bức thư (1,1-4)
Phần I : Sống theo ánh sáng của ân sủng (1, 5-2, 28)
Phần II : Sống theo tư cách là con cái Thiên Chúa (2, 2-4,
5)
Phần III : Sống trong tình yêu của Thiên Chúa (4, 7-5, 13)
Phần kết : Lòng tin vào Chúa Kitô (5, 14-17)
- Thư II : Sống trong tình yêu thương lẫn
nhau
Mở đầu : Lòng ưu ái của Thánh Gioan với độc giả (câu 1-3)
Phần thân : Khuyên sống bác ái (câu 4-11)
Phần kết : Lời chào (câu 12-13)
- Thư III : Khen lòng đạo đức của một người
Gaiô.
Mở đầu : Chúc lành (câu 1-2)
Phần thân : Khen Gaiô (câu3-12)
Phần kết : Lời chào (câu 13-15)
(TUẦN 21)
Thư của Thánh Giuđa Tông Đồ
Thánh Giuđa Tông Đồ (khác với
Giuđa bán Chúa) viết thư này để cảnh cáo các tín hữu phải đề
phòng những lạc đạo đã xâm nhập vào cộng đoàn.
Mở đầu : Khuyên các tín hữu phải chiến đấu vì đức tin (câu 1-4)
Phần thân : Hình phạt cho những kẻ khuyến dụ và những kẻ theo
đường xấu (câu 5-19)
Phần kết : Khuyên các tín hữu hãy lo sống xứng đáng và cứu vớt
những ai phân vân lưỡng lự (câu 20-25)
(TUẦN 22)
Sách Khải Huyền của Thánh Gioan
Sách Khải Huyền giải thích
tình cảnh khốn quẫn của cộng đoàn Tiểu Á đang gặp phải, theo
viễn tượng cánh chung tận thế. Hy vọng cuả Hội Thánh tất cả
dựa vào Chúa Kitô. Hội Thánh xưng đức tin vào Đấng đã chết và
sống lại:
Chúa Kitô sẽ đến trong vinh quang.
Sách gồm 22 đoạn chia làm 4 phần:
- Mở đầu : Lời chào, kiến thị con người (1,
9-20)
- Phần I : Thị kiến về những việc hiện tại
(2, 1-3, 22)
- Phần II : Thị kiến về những sự sẽ xảy ra
(4, 1-22, 5)
- Phần kết : Chúa Kitô sẽ đến (22, 6-21)
(TUẦN 23)
Sách Công Vụ Tông Đồ
Sách CVTĐ do Thánh Luca viết
vào khoảng năm 63-64 tại Roma, cho những người ngọai giáo đã
trở lại Kitô giáo. Với mục đích minh chứng sự thực hiện chương
trình của Thiên Chúa qua sự bành trướng lạ lùng của Phúc Âm.
Sách CVTĐ gồm 28 đoạn chia làm 4 phần:
-
Mở đầu : Lời tựa, việc Chúa Giêsu lên
trời và việc chọn Tông Đồ Matthia. (1, 1-26)
-
Phần I : Hội Thánh nơi người Do Thái.
Stephanô vị tử đạo tiên khởi. Việc Phaolô trở lại (2-9)
-
Phần II : Cuộc truyền giaó cho dân ngoại,
công đồng các Tông Đồ. (10-15, 35)
-
Phần III : Hội Thánh nơi dân ngoại. Tột
điểm công cuộc truyền giáo của Phaolô.
Phaolô bị bắt và giải về Roma. (15,36-28, 31)
(TUẦN 24)
Đời sống các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ
khai
Sách TĐCV cho chúng ta thấy
sự bành trướng lạ lùng của Tin Mừng, đồng thời cũng cho chúng
ta biết sơ lược đời sống của các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai.
Trong thời kỳ ấy, các Kitô hữu ân cần nghe giáo huấn của các
Tông Đồ, đồng tâm nhất trí với nhau, liên kết trong lời cầu
nguyện (TĐCV 2,42)
Mọi người đều coi mọi sự như của chung : đất đai, của cải thì
họ bán đi phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của
mình (TĐCV 2, 44-45). Họ sống bác ái và thực tình giúp đỡ nhau
trong tình huynh đệ.
Họ chuyên tâm cầu nguyện và hân hoan trong hy vọng (TĐCV 2,
46-47).
(TUẦN 25)
Thánh Phaolô, Tông Đồ của dân ngoại
- Sứ vụ của Phaolô được báo trước như thế
nào ? - Khi được kêu gọi trở lại làm tông đồ trên đường Damas,
Chúa đã nói với Phaolô : " Con là lợi khí Ta dùng để
mang danh Ta ra trước mặt các dân ngoại, các vua Chúa và con
cái Israel..."
- Ngài đáp trả ơn gọi tông đồ ra sao ? Thánh
Phaolô bắt đầu rao giảng cho người Do Thái. Nhưng họ đã chối
từ, vì thế, ngài đã quay sang dân ngoại (13:46), (vì thế ngài
được danh hiệu là Tông Đồ Dân Ngoại). Tuy nhiên, ngài vẫn
rao giảng cho hết mọi người, không phân biệt chủng tộc, luôn
luôn hăng say với sứ vụ Tin Mừng :
(TUẦN 26)
Đời sống gương mẫu của Thánh Phaolô
Trong thư gửi tín hữu Côrinthô,
Phaolô viết : "Anh em hãy theo gương tôi, như tôi đã theo
gương Chúa Kitô" ( I Cor. 11, 1). Thực thế Phaolô đã theo
gương Chúa Kitô hết mình và ngài đã mạnh bạo khuyên mọi người
hãy sống theo ngài.
Theo gương Chúa Kitô, Phaolô đã nên gương cho chúng ta về lòng
mến Chúa, lòng yêu thương tha nhân, đòi sống cầu nguyện, hy
sinh, tinh thần truyền giáo, tinh thần từ bỏ, phó thác, đời
sống làm việc...Chúng ta hãy suy nghĩ và theo gương Ngài.
(TUẦN 27)
Tình yêu Chúa Kitô nơi Thánh Phaolô
Tình yêu Chúa Kitô đã làm cho
Thánh Phaolô từ một kẻ thù nghịch trở nên hăng hái rao giảng
tin mừng cứu độ. Chính tình yêu ấy đã liên kết ngài với Chúa
Kitô. Trong thư gửi tín hữu Galata, ngài viết :
( Thư Galata 2, 20).
Ngài đã hoạt động tất cả vì tình yêu đó : " Tình yêu Chúa
Kitô thúc bách tôi ( 2Cor. 5,14) và không sức mạnh nào có thể
tách rời ngài khỏi Chúa Kitô : "Dù sự chết, sự sống, thiên
thần dù đói khát hay bất cứ tạo vật nào khác cũng không thể
tách rời chúng ta khỏi lòng mến Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô,
Chúa chúng ta " (Rom.8,38-39).
(TUẦN 28)
Phaolô dạy ta về tình yêu
Tình yêu đã thúc đẩy Phaolô
hoạt động và hy sinh, đã chi phối cuộc đời Ngài. Vì thế Ngài
không ngừng khuyên nhủ chúng ta sống trong tình yêu và hoạt
động vì Tình Yêu. Phaolô dạy ta sống trong Đức Aùi : Yêu mến
Thiên Chúa và yêu tha nhân. Theo ngài, có đức ái là có tất cả,
thiếu đức ái, tất cả đều trở nên vô ích : " Nếu tôi được
tất cả lòng tin chuyển núi rời non mà thiếu đức ái, tôi vẫn
là không. Nếu tôi đem cả gia tài bố thí cho kẻ khó, nộp mình
chịu thiêu đốt mà không có đức ái thì cũng vô ích cho tôi"
( I Cor. 13, 2-3).
(TUẦN 29)
Đại cương về công cuộc truyền giáo của
Thánh Phaolô
Sau khi trở lại, Phaolô bắt
đầu ngay công cuộc truyền giáo cho người Do Thái, từ Damas đến
Antiokia. Nhưng đó chỉ là những hoạt động chuẩn bị cho 3 cuộc
hành trình truyền giáo quy mô của Ngài
sau này:
- Cuộc hành trình truyền giáo thứ I : từ năm
45-48 có Barnaba cùng đi.
- Cuộc hành trình truyền giáo thứ II : từ
năm 50-53 có Sila và Timôthêô cùng đi.
- Cuộc hành trình truyền giáo thứ III : từ
năm 54-58
(TUẦN 30)
Nhà tù và cái chết của Phaolô
Năm 58 sau Chúa Kitô, Phaolô
trở về thăm Giêrusalem. Vì ông rao giảng Chúa Kitô cho người
Hy lạp, điều làm cho người Do thái tức giận và coi ông là người
phá luật Maisen, đưa dân ngoại vào làm ô uế đền thờ... nên khi
thấy ông, dân Do thái nổi giận, bắt trói và đòi giết ông ( Acts
21 : 28-36 )
Phaolô bị bắt và trao cho quan trấn thủ Felix, ông này muốn
Phaolô đút lót tiền để được tha. Nhưng vì Phaolô không cho tiền
hối lộ nên Felix giam ông trong tù mà không cứu xét để làm vui
lòng dân Do thái cho dù theo luật chỉ được giam tù nhân tối
đa là 2 năm, sau đó phải cứu xét. Sau 2 năm tù chưa được cứu
xét thì Felix bị đổi.
Porcius Festus thay thế Felix. Phaolô xin được Hoàng Đế Caesar
xét sử tại Roma dựa vào quyền công dân của ông. Được chuyển
đi bằng tàu rồiø bị đắm tàu và sống xót trên đảo Malta. Mãi
tới năm 61 Phaolô mới tới thủ đô Roma và bị giam thêm 2 năm
nữa. Ở đó ông vẫn không quản sứ mạng truyền giáo nên đã viết
những lá thư từ nhà tù cho Philenion, giáo dân Colosse và cho
giáo dân Ephêsô.
Phaolô chết vào khoảng năm 67 trong cuộc bách đạo thời Nero
từ năm 64 - 68. Phaolô được mai táng tại Via- Ostieusis. Năm
258 hài cốt Ngài được đến Ad Catacumbas để tránh cuộc bách hại
của Valeria. Sau này, được dời về chỗ chôn cũ và hoàng đế Constantine
đã xây một đền thờ trên mộ Ngài.
|